Home » Cộng đồng chính trị, Tư liệu, Điểm nổi bật » Tóm lược Chương VIII – Cộng đồng chính trị

Tóm lược Chương VIII – Cộng đồng chính trị


CỘNG ĐỒNG CHÍNH TRỊ

Linh mục Phan Tấn Thành OP
 

Chữ viết tắt

CT = Chính trị
GHXH = Giáo huấn xã hội của Giáo hội
GLCG = Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo
TLHT = Sách Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội
Các thông điệp: CA = Centesimus annus; MM = Mater et Magistra;  PT = Pacem in terris.
GS = Hiến chế Gaudium et spes (Vui mừng và Hy vọng) của công đồng Vaticanô II

 

Chương này tuy ngắn nhưng được chia thành 6 đoạn bởi vì đụng đến nhiều vấn đề: 1/ Khía cạnh Thánh Kinh. 2/ Nền tảng và mục đích của cộng đồng chính trị. 3/ Quyền bính chính trị. 4/ Chế độ dân chủ. 5/ Cộng đồng chính trị phục vụ cộng đồng dân sự. 6/ Nhà Nước và các cộng đồng tôn giáo.

Ta có thể tạm vạch ra thứ tự như thế này: sau khi mở đầu bằng vài suy tư Kinh thánh, sách TLHT bàn đến ý nghĩa của cộng đồng chính trị (đoạn 2); cộng đồng chính trị được điều khiển do quyền bính chính trị hay chính quyền (đoạn 3). Đó là hai đoạn dài hơn cả, liên quan đến bản chất của cộng đồng chính trị; những đoạn còn lại được coi như bổ túc cho hai đề tài đó, liên quan đến cách điều hành.

I. Những khía cạnh Thánh Kinh

Tựa đề “Những khía cạnh Thánh Kinh” ra như muốn cho thấy vài khía cạnh của Thánh Kinh liên quan đến quyền bính chính trị, chứ không dám nói đến “cộng đoàn chính trị dựa theo Thánh kinh”. Đoạn này bàn đến ba giai đoạn trong lịch sử mạc khải: 1/ Cựu ước (Dân Israel). 2/ Chúa Giêsu. 3/ Thời các tông đồ.

A. Thiên Chúa là Chủ tể (Cựu ước)

377. Vào giai đoạn khai nguyên, dân tộc Israel chỉ nhìn nhận Giavê như là Chúa tể.

- Về sau, dân Israel xin Chúa ban cho họ một ông vua, giống như các dân tộc khác (1Sm 8, 5;10,18-19). Ông Samuel đã cảnh báo cho Israel về những hậu quả của nền quân chủ độc đoán (1Sm 8,11-18); tuy nhiên, vương quyền cũng có thể được trải nghiệm như là hồng ân của Giavê đến cứu giúp dân tộc (xc. 1Sm 9, 16). Cuối cùng, ông Saulê được tấn phong làm vua (1 Sm 10,1-2).

- Những đặc trưng của vương quyền ở Israel: + Nhà vua do Giavê chọn lựa và tấn phong; + ông được coi như là con của Giavê; + ông có bổn phận phải làm sáng tỏ quyền chủ tể của Thiên Chúa và kế hoạch cứu độ, qua việc bênh vực kẻ nghèo hèn, thi hành công lý.

378. Khuôn mẫu của nhà vua được Giavê tuyển chọn là ông Đavít, một người thuộc hạng cùng đinh (1Sm 16, 1-13). Đavít khai mào một truyền thống vương giả của đấng Mêsia mà tuyệt đỉnh sẽ đạt tới nơi đức Giêsu Kitô.[1]  Sự thất bại của vương quyền trên lãnh vực lịch sử không làm tiêu tan lý tưởng về một vị vua trung tín với Giavê; Người ấy sẽ cai trị cách khôn ngoan và hành quyền theo công lý. Người ấy sẽ được đầy tràn Thần khí Chúa, sẽ là mục tử chân chính của Israel, sẽ mang thái bình đến cho các nước. Tân ước sẽ nhận ra nơi Đức Giêsu Nazareth hiện thân của vị vua lý tưởng được mô tả.

B. Đức Giêsu với quyền bính chính trị

379. “Hãy trả cho Cesar cái gì thuộc về Cesar, và trả cho Thiên Chúa cái gì thuộc về Thiên Chúa” (Mc 12,13-17). Đức Giêsu không chấp nhận sự chuyên chế của quyền bính các vua chúa trần gian. Người đã chiến đấu và chiến thắng cơn cám dỗ muốn làm vua Mêsia chính trị. Người đến để phục vụ và trao hiến mạng sống của mình. Người dặn dò các môn đệ: “Người làm lớn phải trở thành kẻ phục vụ tất cả” (Mc 9,33-35).

C. Các cộng đồng Kitô hữu tiên khởi

380. Việc tùng phục quyền bính hợp pháp là điều hợp với trật tự do Thiên Chúa thiết lập. Sự tùng phục này là một nghĩa vụ lương tâm (x. Rm 13,5), chứ không phải chỉ hoàn toàn thụ động. Một cách cụ thể, thánh Phaolô nhắc nhở nghĩa vụ phải đóng thuế (Rm 13,17), phải quan tâm làm điều tốt trước mặt mọi người (Rm 12,17), tôn trọng chính quyền bởi vì họ phục vụ Thiên Chúa khi nhằm đến điều tốt cho mọi người, trừng phạt kẻ gian ác (Rm 13,4). Thánh Phêrô khuyên nhủ các tín hữu vì lòng mến Chúa hãy tùng phục các thể chế nhân loại (1Pr 2,13), phải tôn trọng chính quyền (1Pr 2,17) vì họ được đặt lên để phạt người ác và thưởng người tốt (1Pr 2,17).

381. Thánh Phaolô nhắn nhủ các tín hữu hãy cầu nguyện cho nhà cầm quyền vì họ phải duy trì nếp sống trật tự yên ổn (1Tm 2,1-2), hãy mau mắn thi hành những việc tốt (Tt 3,1), hãy tỏ ra hoà nhã với hết mọi người (Tt 3,2). Các tín hữu hãy nhớ đến thân phận khốn khổ của con người, nếu không được ơn Chúa xót thương thì có thể rơi vào đủ thứ tội ác, thù ghét lẫn nhau (Tt 3,3).

382. Khi quyền bính con người vượt ra khỏi giới hạn của trật tự mà Thiên Chúa thiết định thì nó tôn mình làm Thượng đế và bắt nhân dân thờ lạy (Kh 17,6). Trong trường hợp ấy, nó trở thành công cụ của Satan. Đức Kitô là Con Chiên đã chiến thắng mọi quyền bính muốn tự tôn phong như là tuyệt đối. Đối diện với thứ quyền bính như vậy, thánh Gioan khuyên nhủ các tín hữu hãy kháng cự như các thánh tử đạo.

383. Giáo hội loan báo rằng Đức Kitô, kẻ chiến thắng tử thần, đang hiển trị trên thế giới mà Người đã cứu chuộc. Vương quyền của Người cũng kéo dài cho đến hôm nay cho đến ngày chung thẩm.

Quyền bính dễ bị cám dỗ muốn thống trị. Đức Kitô cho biết rằng quyền bính chân chính nhằm phục vụ. Thiên Chúa là người cha duy nhất của tất cả mọi người; họ phải đối xử với nhau như là anh chị em. Đức Kitô là Tôn sư của tất cả mọi người. Người không muốn nắm giữ hết mọi quyền hành trong tay, nhưng Người trao cho mỗi người những chức vụ mà họ có khả năng thi hành. Cách cư xử này cần được hoạ lại trong đời sống xã hội. Những kẻ cầm quyền cần phải tỏ ra như là những tác viên của Chúa quan phòng (GLCG số 1884).

Tóm lại, Kinh thánh chấp nhận rằng quyền bính cần thiết cho đời sống xã hội, vì thế người tín hữu phải tôn trọng chính quyền. Xã hội cần có quyền bính: điều này nằm trong chương trình của Thiên Chúa. Tuy nhiên nếu chính quyền vượt quá giới hạn của mình, thì người tín hữu có bổn phận phải kháng cự.

II. Nền tảng và mục đích của cộng đồng chính trị

Đoạn này bàn về bản chất của cộng đồng chính trị xét trong tương quan với những công dân là những nhân vị. (Chúng ta sẽ giải thích ý nghĩa của thuật ngữ “cộng đồng chính trị” ở trong mục 2). Có ba điểm chính: 1) Cộng đồng chính trị và nhân vị. 2) Cộng đồng chính trị và việc bảo vệ nhân quyền. 3) Nền tảng của các mối tương quan giữa các phần tử.

A. Cộng đồng chính trị, nhân vị và dân tộc

1/ Nhân vị là nền tảng và cứu cánh của cộng đồng chính trị (GLCG 1881). Nhân vị là một hữu thể có lý trí, có trách nhiệm về những hoạt động của mình; nhưng nhân vị chỉ đạt được sự thành tựu sung mãn và toàn diện trong mối tương quan với Đấng Siêu việt và với tha nhân. Do đó đời sống xã hội nằm trong yếu tính của con người chứ không phải là cái gì phụ thuộc[2] (số 384).

2/ Cộng đồng chính trị phát sinh từ bản chất của các nhân vị. Cộng đồng chính trị phải tôn trọng trật tự luân lý và tôn giáo mà Thiên Chúa đã ghi khắc trong lương tâm của con người. Trật tự luân lý và tôn giáo cần được nhân loại khám phá ra dần dần.

Cộng đồng chính trị nhằm mục đích là sự tăng trưởng toàn diện của các phần tử, những người được mời gọi hợp tác để đạt được thiện ích chung[3].

3/ Một cơ sở của cộng đồng chính trị là dân tộc[4] (số 385). Dân tộc là gì? (Xc. Sứ điệp truyền thanh của Đức Piô XII nhân lễ Chúa Giáng sinh năm 1944).

- Dân tộc không phải là một đám đông không tên tuổi, có thể lèo lái và khai thác, nhưng là một tập hợp những nhân vị có khả năng tạo ra một ý kiến về việc chung; tập hợp ấy có tự do phát biểu cảm nghĩ chính trị của mình và đòi hỏi thực hiện; tập hợp ấy gồm bởi những con người có trách nhiệm, và có quyền tự trị trong đời sống cá nhân.

- Đặc trưng của một dân tộc là chia sẻ sự sống và những giá trị là nguồn hiệp thông trên lãnh vực thiêng liêng và luân lý. Đời sống trong xã hội cần được nhìn như là một thực thể thuộc trật tự tinh thần: trao đổi những kiến thức trong ánh sáng của sự thật; thi hành các quyền lợi và chu toàn các nghĩa vụ; thi đua tìm kiếm đức hạnh; sẵn sàng truyền thông những gì tốt đẹp mang trong mình; khát vọng được luôn trau dồi về tinh thần. Đó là những giá trị định hướng cho tất cả mọi sinh hoạt: văn hoá, kinh tế, chính trị, tổ chức xã hội, pháp luật, vv.

4/ Thông thường mỗi dân tộc họp thành một quốc gia (nation); tuy nhiên vì những lý do khác nhau, biên giới của quốc gia không luôn luôn trùng hợp với biên giới của chủng tộc (số 387).

Huấn quyền Giáo hội khẳng định rằng các nhóm dân thiểu số được hưởng những quyền lợi và nghĩa vụ đặc thù.

- Những quyền lợi: quyền hiện hữu; quyền bảo vệ văn hoá, ngôn ngữ, tín ngưỡng (kể cả quyền thực hành phụng tự).

- Những nghĩa vụ: hợp tác vào công ích của quốc gia tại nơi họ đang sinh sống; cổ vũ tự do và phẩm giá của mỗi phần tử, tôn trọng sự lựa chọn của những người muốn chuyển sang văn hoá của nhóm đa số.

Các nhóm thiểu số có thể tìm kiếm một sự tự trị rộng rãi hơn, kể cả sự độc lập (tách ra thành một quốc gia độc lập), bằng đường lối đối thoại và thương thuyết.

B. Bảo vệ và thăng tiến các quyền lợi con người[5]

1/ Đối với tư tưởng hiện đại, công ích hệ tại việc bảo vệ các quyền lợi và nghĩa vụ của nhân vị, tức là nhân quyền (số 388). Các nhân quyền:

- tóm tắt những yêu sách luân lý và pháp lý chỉ huy việc xây dựng cộng đồng chính trị;

- là quy chuẩn khách quan cho các luật lệ chế định (droit positif);

- bắt nguồn từ phẩm giá của con người, vì thế nhân quyền có trước cộng đồng chính trị.

2/ Cộng đồng chính trị cần tạo ra một môi trường trong đó các công dân có thể thực sự thi hành các quyền lợi và chu toàn các nghĩa vụ liên hệ.

C. Đời sống xã hội dựa trên tình bằng hữu

1/ Cuộc sống trong xã hội đạt được ý nghĩa trọn vẹn khi được dựa trên tình bằng hữu và huynh đệ[6] (số 390). Những quyền lợi và nghĩa vụ chẳng qua chỉ muốn diễn tả một thực tại thâm sâu hơn trong cuộc sống xã hội, đó là tình bằng hữu và huynh đệ. Thực vậy, lãnh vực của pháp luật (công bằng) là bảo vệ việc tôn trọng các thiện ích vật chất đã được phân phối; đối lại, lãnh vực của tình bằng hữu là sự vô vị lợi, ban phát tùy theo sự đòi hỏi của tha nhân (GLCG số 2212-2213). Như vậy tình bằng hữu dân sự (amicitia civilis) là sự thực thi tình “huynh đệ”, một điều gắn liền với sự “tự do” và “bình đẳng” (khẩu hiệu của cách mạng Pháp: tự do, bình đẳng, huynh đệ).

2/ Đời sống xã hội trở nên nhân bản hơn khi nó hướng đến nền “văn minh tình thương”[7] (số 391).

- Công bằng có thể coi như mức tối thiểu của Bác ái (Thánh Tôma Aquinô).

- Nhân vị là cái gì hơn là một cá thể: đó là một chủ thể có trí tuệ và ý chí tự do, không chỉ thoả mãn với việc đạt các sở thích vật chất, nhưng chỉ được thể hiện toàn vẹn khi biết trao ban vị tha.

3/ Đối với người Kitô hữu, mệnh lệnh bác ái nêu bật hơn nữa ý nghĩa sâu xa của cộng đồng chính trị (số 392).  Những điều kiện cần thiết để cộng đồng chính trị trở nên nhân bản hơn là:

- phát triển ý nghĩa nội tại của công bằng, nhân ái;

- tận tâm với công ích;

- củng cố những xác tín nền tảng về bản chất đích thực của cộng đồng chính trị, cũng như về mục đích và những giới hạn của chính quyền.

III. Quyền bính chính trị

Đoạn này gồm 5 điểm: 1/ nền tảng của quyền bính chính trị. 2/ quyền bính chính trị như là sức mạnh luân lý. 3/ quyền phản đối theo lương tâm. 4/ quyền chống đối. 5/ hình phạt.

Như sẽ nói trong mục 2, đây là một vấn đề nhạy cảm: nguồn gốc quyền bính bởi đâu: bởi trời hay bởi dân? Nếu là bởi dân thì có thể đặt ra những nghĩa vụ lương tâm không? Nếu là bởi trời thì mình có quyền chống đối không? Giữa hai thái cực đó, còn có một cách thức thứ ba để đặt câu hỏi: phải hiểu “bởi trời” như thế nào? Nên biết là những vấn đề này thuộc về luân lý Kitô giáo, được bàn trong sách GLCG số 2234-2243. 

A. Nền tảng của quyền bính chính trị

1/ Giáo hội phải đương đầu với nhiều quan niệm về quyền bính, và luôn bảo vệ khuôn mẫu quyền bính dựa trên bản tính xã hội của các nhân vị (số 393).

Bản tính của quyền bính:

- xã hội không thể đứng vững nếu không có một người chỉ huy để điều động các phần tử phục vụ công ích;

- vì thế tất cả mọi cộng đồng của con người đều cần đến một quyền bính điều hành.

- quyền bính cũng như xã hội đều bắt nguồn từ bản chất của con người (nature)[8], có nghĩa là từ chính Thiên Chúa.

Bởi vậy quyền bính chính trị (autorité politique gọi tắt: chính quyền) là điều cần thiết vì những nhiệm vụ được trao phó (GLCG 1897).

2/ Chính quyền có trách nhiệm bảo đảm nếp sống yên ổn trật tự của cộng đồng, nhưng không phải thay thế các cá nhân hay đoàn thể cho bằng hướng họ về công ích (số 394).

Chính quyền phải phục vụ sự thăng tiến toàn diện của con người, thi hành chức năng trong khuôn khổ của trật tự luân lý, phù hợp với một trật tự pháp lý đã được quy định hợp pháp. Trong điều kiện như vậy, các công dân có bổn phận lương tâm phải tuân hành.

3/ Chủ thể của chính quyền là nhân dân xét theo toàn thể: họ là kẻ nắm giữ chủ quyền (số 395).

-  Nhân dân chuyển giao việc thi hành chủ quyền cho những người mà họ lựa chọn làm đại biểu, và nhân dân giữ quyền kiểm soát.

- Chủ nghĩa dân chủ, nhờ có những cơ chế kiểm soát, cho phép đảm bảo việc thực thi chủ quyền.

- Tuy nhiên, chỉ nguyên sự đồng lòng của nhân dân chưa đủ để coi việc hành sử chính quyền là công bình[9].

B. Quyền bính như là sức mạnh luân lý

1/ Quyền bính cần được hướng dẫn bởi luật luân lý (số 396)

- Quyền bính được uy tín khi thi hành trong khuôn khổ của trật tự luân lý. Trật tự luân lý dựa trên Thiên Chúa là nguyên uỷ và cứu cánh.

- Không thể nào quan nhiệm quyền bính như là một sức mạnh thuần tuý xã hội và lịch sử. Nếu khước từ trật tự luân lý, thì không thể nào quy tụ được các phần tử, để thuyết phục họ nhất trí chấp nhận một quan điểm công lý.

- Trật tự luân lý cần dựa trên Thiên Chúa; nếu tách rời khỏi Thiên Chúa thì nó sẽ tan rã. Nhờ dựa trên trật tự luân lý mà quyền bính lấy sức mạnh truyền khiến bó buộc.

2/ Quyền bính cần phải nhìn nhận, tôn trọng và cổ động các giá trị nhân bản và luân lý thiết yếu (số 397).

Các giá trị luân lý nằm ngay trong bản tính của con người, diễn tả và bảo vệ phẩm giá con người, và là những yếu tố của một luật luân lý khách quan được khắc trong tâm khảm của mỗi người[10]. Những giá trị này không dựa theo ý kiến của đa số, và không có thể thay đổi do một cuộc trưng cầu ý kiến.

Các luật pháp của quốc gia cần phải quy chiếu về các giá trị luân lý.

3/ Chính quyền phải ban hành những luật công bằng, nghĩa là phù hợp với phẩm giá nhân vị và với những đòi hỏi của lý trí ngay thẳng (số 398).

Chỉ khi nào phù hợp với lý trí ngay thẳng và với luật vĩnh cử thì luật pháp mới xứng đáng với danh nghĩa của nó. Nếu không, nó trở thành luật bất chính (bất nhân) và là hành động bạo lực.

- Ai khước từ tuân phục quyền bính hành động theo trật tự luân lý thì sẽ làm trái ngược với trật tự do Thiên Chúa thiết lập (Rm 13,2). Một cách tương tự như vậy, quyền bính nào không quan tâm đến việc thực hiện công ích thì làm mất mục tiêu của mình và mất thế lực.

C. Quyền phản đối theo lương tâm[11]

Lương tâm không bắt buộc phải tuân giữ những quy định của chính quyền nếu chúng trái nghịch với những đòi hỏi luân lý (số 399).

Sự phản đối theo lương tâm không chỉ là một bổn phận luân lý nhưng còn là một quyền lợi cản bản của con người. Quyền này phải được luật quốc gia bảo vệ.

D. Quyền chống đối[12]

1/ Luân lý cho phép chống đối quyền bính trong trường hợp họ vi phạm các nguyên tắc của luật tự nhiên một cách trầm trọng và liên tục (số 400). Thánh Tôma Aquinô viết rằng: “người ta chỉ buộc phải vâng lời trong mức độ do trật tự công lý đòi hỏi” (Summa Theologiae II-II, q.104, a.6). Do đó, nền tảng của quyền chống đối là luật tự nhiên.

2/ GHXH đã vạch ra những tiêu chuẩn của việc thi hành quyền chống đối (số 401). Những điều kiện biện minh cho việc sử dụng vũ trang là:

a) có sự xâm phạm các quyền căn bản của con người cách chắc chắn, nghiêm trọng và kéo dài;

b) đã sử dụng hết mọi phương thế khác để sửa đổi mà không kết quả;

c) sự chống đối sẽ không gây ra những bất ổn tệ hại hơn;

d) có hy vọng thành công với những lý do có cơ sở;

e) không thể tiên liệu hợp lý được những giải pháp nào tốt hơn” (GLCG số 2243).

Xét vì những nguy hiểm của việc chống đối bằng vũ lực, khuyên nên sử dụng đường lối “chống đối thụ động” bởi vì phù hợp hơn với các nguyên tắc luân lý và không kém hứa hẹn thành công.

E. Hình luật

1/ Để bảo vệ công ích, chính quyền hợp pháp có quyền lợi và bổn phận phải ra hình phạt tương xứng với mức độ nặng nhẹ của tội phạm (số 402).

Nhà Nước có hai trách vụ: a) bài trừ những hành vi xâm phạm đến quyền lợi con người và những quy luật cơ bản của xã hội dân sự; b) dùng hình phạt để sửa chữa những xáo trộn mà tội phạm đã gây ra.

2/ Những mục tiêu của hình phạt (số 403):

- bảo vệ trật tự công cộng

- bảo đảm an ninh cho các công dân

- dụng cụ để cải tạo người lầm lỗi

- Hình phạt cũng có giá trị luân lý của việc đền tội khi phạm nhân tình nguyện chấp nhận sự trừng phạt

Hình phạt cần phải giúp các tội nhân trở về với xã hội, cũng như cỗ xuý một nền công lý hoà giải nhằm tái lập sự chung sống bị đỗ vỡ do tội phạm.

3/ Các cơ quan tư pháp cần phải hết sức truy tầm sự thật và tôn trọng phẩm giá và quyền lợi các nhân vị (số 404).

- Không thể tuyên án phạt nếu không chứng minh được tội phạm.

- Sự tra tấn làm hạ giá kẻ bị tra tấn cũng như người tra tấn.

- Việc xét xử cần tiến hành nhanh chóng

- Các nhân viên toà án có bổn phận bảo mật.

4/ Án tử hình (số 405)

Dư luận càng ngày càng chống lại án tử hình, và muốn loại trừ hình phạt này. Hội thánh coi đó như là một dấu hiệu hy vọng, và tuy không chủ trương loại trừ hình phạt tử hình nhưng cho rằng những biện pháp trừng phạt không đổ máu thì tốt hơn, bởi vì phù hợp hơn với công ích và nhân phẩm (GLCG số 2267).

IV. Chế độ dân chủ

406. Giáo hội đề cao chế độ dân chủ vì bảo đảm sự tham gia của các công dân vào những chọn lựa chính trị (trích dẫn thông điệp Centesimus annus số 46)

Giáo hội không thể chấp nhận một nhóm người lãnh đạo chiếm giữ quyền lực Nhà nước để làm lợi cho cá nhân hay phục vụ một ý thức hệ.

Chỉ có thể có một nền dân chủ chân chính trong một quốc gia pháp trị[13] và dựa trên một quan niệm đúng đắn về nhân vị.

A. Những giá trị của dân chủ (số 407)

1/ Những giá trị của nền dân chủ chân chính. Không phải chỉ cần tôn trọng các quy tắc nhưng còn phải thâm tín về các giá trị: phẩm giá con người, tôn trọng nhân quyền, công ích như là mục đích và tiêu chuẩn cho hoạt động chính trị.

2/ Những sai lầm của các chế độ dân chủ hiện nay

- Thuyết tương đối luân lý chủ trương rằng không có tiêu chuẩn khách quan và phổ quát để làm nền tảng cho các giá trị.

- Thuyết bất-khả-tri và thuyết hoài nghi: chân lý được ấn định bởi đa số hoặc bởi sự thương thảo giữa các lực lượng cầm quyền.

Một nền dân chủ mà thiếu giá trị luân lỹ thì sẽ dễ rơi vào chế độ toàn chế, như lịch sử đã cho thấy. Dân chủ là một chế độ và như vậy nó là một công cụ chứ không phải là cứu cánh.

B. Các định chế và chế độ dân chủ

1/ Huấn quyền của Hội thánh nhìn nhận nguyên tắc phân quyền trong một quốc gia, bởi vì nó duy trì sự thăng bằng giữa các quyền lực (số 408). Đó là lợi ích của “Quốc gia pháp trị”, trong đó quyền tối thượng thuộc về pháp lý chứ không tùy thuộc vào ý định chuyên quyết của con người.

Trong thể chế dân chủ, chính quyền chịu trách nhiệm trước nhân dân. Nhân dân giữ vai trò kiểm soát, qua những cuộc bầu cử định kỳ.

2/ Chính quyền có bổn phận trả lời với nhân dân. Điều này không có nghĩa là các đại biểu chỉ là những nhân viên thụ động của các cử tri (số 409). Những người đắc cử được hưởng tự do để theo đuổi những mục tiêu phục vụ công ích trong nhiệm kỳ của mình.

C. Những yếu tố luân lý trong việc đại diện chính trị

1/ Những người có trách nhiệm chính trị không được bỏ qua hoặc coi nhẹ chiều kích luân lý của việc đại điện (số 410):

- tìm cách giải quyết các vấn đề xã hội;

- hành sử quyền bính trong tinh thần phục vụ;

- nhằm tới công ích, chứ không phải danh vọng hoặc ích lợi cá nhân.

2/ Trong những lệch lạc của chế độ dân chủ, sự tham nhũng phải được liệt kê vào số trầm trọng nhất (số 411). Nó phản bội những nguyên tắc của luân lý và những quy luật của đức công bằng xã hội. Nó làm tổn hại sự điều hành đúng đắn bộ máy chính quyền. Nó làm cho người mất tin tưởng vào các thể chế chính trị.

3/ Các cơ quan hành chánh ở mọi cấp bậc (quốc gia, miền, làng) đều nhằm để phục vụ các công dân (số 412). Là quản lý các tài sản của nhân dân, chính quyền phải thi hành chức năng nhằm công ích. Một nguy cơ của guồng máy hành chánh là tật quan liêu bàn giấy, với những thủ tục phiền toái; muốn nắm trong tay hết mọi vấn đề.

Cơ quan hành chánh phải có tinh thần phục vụ nhân dân, giúp đỡ thay vì hống hách.

D. Những công cụ để tham gia chính trị

1/ Các đảng phái có bổn phận cổ động việc tham gia vào các chức vụ chính trị (số 413). Họ phát biểu những nguyện vọng của xã hội dân sự nhắm tới công ích; họ cung cấp cho công dân những cơ hội để góp phần vào những hình thành các chính sách. Các đảng phái cần phải được tổ chức nội bộ theo đường lối dân chủ.

2/ Một công cụ khác để tham gia chính trị là cuộc trưng cầu dân ý.

E. Thông tin và dân chủ

1/ Ngành thông tin[14] là một trong những công cụ chính của việc tham gia dân chủ (số 414). Cần phải đảm bảo tính đa nguyên trong lãnh vực tế nhị này.

Những điều ngăn cản việc thực hiện quyền lợi được thông tin khách quan:

- Sự tập trung trong ngành xuất bản và truyền hình vào những tư nhân hoặc chính quyền;

- Sự liên kết ngành thông tin với các cơ quan Nhà Nước hoặc các nhóm tài phiệt.

2/ Các phương tiện truyền thông xã hội phải được sử dụng để xây dựng và nâng đỡ cộng đồng nhân loại trong những lãnh vực khác nhau: kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, tôn giáo (số 415).

- Việc thông tin nhằm phục vụ công ích. Xã hội có quyền lợi được thông tin dựa trên sự thật, tự do, công bằng, và liên đới.

- Một vấn đề thiết yếu liên quan đến hệ thống thông tin ngày nay là xem nó có giúp cho con người nên tốt hơn hay không: chín chắn hơn về tinh thần; có ý thức hơn về phẩm giá của mình; có trách nhiệm và cởi mở hơn đối với tha nhân, cách riêng đối với những thành phần yếu kém.

3/ Những khó khăn mà các phương tiện truyền thông gặp phải (số 416): đề cao ý thức hệ; lợi nhuận; kiểm soát chính trị; cạnh tranh giữa phe phái.

a) Ngành truyền thông cũng phải tuân theo những giá trị và nguyên tắc luân lý liên quan đến: nội dung (của sứ điệp), tiến trình truyền thông (cách thức thực hiện), những cơ chế căn bản của việc truyền thông (sự phân phối các kỹ thuật tân tiến). Nguyên tắc luân lý căn bản là: việc sử dụng các phương tiện truyền thông phải nhắm đến nhân vị và cộng đồng nhân loại.

b) Một nguyên tắc thứ hai bổ túc cho nguyên tắc vừa nói là: điều thiện của các cá nhân không thể nào tách rời khỏi điều thiện của các cộng đồng mà cá nhân là thành phần.

Vì thế sự tham gia vào việc quyết định chính sách truyền thông là điều cần thiết. Sự tham gia này phải mang tính cách đại diện thực sự, chứ không thiên vị một nhóm nào.

V. Cộng đồng chính trị nhằm phục vụ cộng đồng dân sự

Khái niệm về “cộng đồng dân sự” sẽ được giải thích trong mục II. Thuật ngữ này đã được sách TLHT sử dụng ngay từ chương Bốn (số 168;185).

A. Giá trị của xã hội dân sự

1/ Cộng đồng chính trị được thiết lập nhằm phục vụ xã hội dân sự (số 417).

- Giáo hội đã góp phần vào sự phân biệt giữa cộng đồng chính trị và xã hội dân sự khi đương đầu với một vài ý thức hệ: a) chủ nghĩa cá nhân, coi nhẹ công ích chính trị; b) chủ nghĩa toàn chế muốn nắm gọn xã hội chính trị vào tay Nhà Nước.

- Định nghĩa: “Xã hội dân sự là tổng hợp bao gồm các mối quan hệ và các nguồn lực về văn hoá lẫn hiệp hội, độc lập một cách tương đối khỏi giới chính trị và kinh tế”.

- Đặc trưng: a) Mục đích của xã hội dân sự bao gồm tất cả các công dân, bởi vì nó nó có liên quan tới công ích. b) Nó có khả năng thảo ra những dự án tạo điều kiện giúp cho cuộc sống xã hội được tự do và công bằng hơn, hầu đáp ứng các nhu cầu căn bản và bảo vệ các quyền lợi chính đáng của mình.

2/ Ưu thế của xã hội dân sự

Xã hội dân sự đứng trước xã hội chính trị (số 418). Tuy cả hai nếu lệ thuộc lẫn nhau, nhưng phải nói rằng cộng đồng chính trị bắt nguồn từ xã hội dân sự.

Mối tương quan giữa Nhà Nước và xã hội dân sự được điều hòa bằng nguyên tắc hỗ trợ (hay bổ trợ), đã được bàn ở số 185-188. Nhà Nước tạo ra khung cảnh pháp lý để xã hội dân sự hoạt động, và canh chừng để tránh sự xung đột giữa các nhóm.

B. Việc áp dụng nguyên tắc hỗ trợ

1/ Điều quan trọng là sự tăng trưởng đời sống dân chủ bắt nguồn từ khung cảnh xã hội (số 419). Cá nhân có thể phát huy chiều kích xã hội của mình trong các khuôn khổ của đoàn thể tự nguyện hoặc hợp tác trong “lãnh vực thứ ba” (secteur tertiaire, ngoài hai lãnh vực chính trị và kinh tế). Việc thực hành các quyền lợi bên ngoài cơ chế Nhà Nước góp phần vào việc làm cho đời sống dân chủ được phong phú hơn.

2/ Các mối tương quan diễn ra trong bầu khí hợp tác và liên đới có sức vượt lên trên các mối chia rẽ do ý thức hệ, nhờ việc thúc đẩy đi tìm những gì liên kết hơn là những gì chia rẽ (số 420). Sự hợp tác này được xem như lời đáp trả mạnh mẽ nhất đối lại với não trạng tranh chấp và cạnh tranh đang ngự trị trong thế giới hiện nay. Các kinh nghiệm về thiện nguyện cho thấy sự tái lập một luân lý công dựa trên sự hợp tác và tình huynh đệ là điều có thể được.

VI. Nhà Nước và các cộng đồng tôn giáo

Có hai điểm chính: một, tương quan giữa Nhà Nước với các tôn giáo nói chung; hai, tương quan với Giáo hội Công giáo nói riêng. Nên biết là Giáo hội Công giáo mang tính độc đáo không những về đạo lý mà còn về tổ chức pháp lý nữa (một thực thể công pháp quốc tế).

A. Tự do tín ngưỡng[15], một quyền lợi căn bản của con người

1/ Công đồng Vaticanô II đã đưa Giáo hội vào việc cổ võ tự do tín ngưỡng (số 421).

- Tuyên ngôn Dignitatis humanae khẳng định quyền lợi của các cá nhân và cộng đồng được hưởng sự tự do dưới khía cạnh xã hội và dân sự trong lãnh vực tín ngưỡng.

- Đây là một quyền lợi gắn với bản tính con người. Phẩm giá nhân vị và bản chất của việc tìm kiếm Thiên Chúa đòi hỏi cho hết mọi người không bị cưỡng bách trong phạm vi tín ngưỡng, dựa trên nguyên tắc: “Chân lý tự nó có sức thu hút, chứ không do áp lực bên ngoài.

- Xã hội và Nhà Nước không được phép cưỡng bách một người phải hành động trái với lương tâm của mình, cũng không được phép ngăn cản không được hành động theo lương tâm của mình.

- Tự do tín ngưỡng không có nghĩa là tha hồ đi theo sự sai lầm, cũng không cung cấp cho sự sai lầm được hưởng quyền lợi quảng bá (GLCG 2108).

2/ Tự do lương tâm và tự do tín ngưỡng liên quan đến con người xét như cá nhân và như cộng đồng (số 422).

Quyền tự do tín ngưỡng phải được nhìn nhận trong hệ thống pháp luật như là một quyền lợi công dân, nhưng nó không phải là một quyền lợi vô giới hạn. Việc hành sử quyền này cần được xác định dựa theo sự khôn ngoan chính trị và những đòi hỏi của công ích, qua những quy tắc pháp lý phù hợp với trật tự luân lý khách quan.

3/ Một tôn giáo có thể được Nhà Nước công nhận cách đặc biệt do những liên hệ lịch sử và văn hóa đặc thù (số 423). Việc công nhận này không được gây ra sự kỳ thị về dân sự hay xã hội đối với các nhóm khác.

Quyền tự do tín ngưỡng bị xâm phạm ở nhiều quốc gia.

B. Giáo hội Công giáo và cộng đồng chính trị: độc lập và hợp tác

1/ Độc lập và tự trị

Cộng đồng chính trị và Giáo hội đều độc lập và tự trị trong lãnh vực riêng của mình (số 424). Đó là hai thực thể khác biệt xét theo bản tính bởi vì theo đuổi những mục đích riêng biệt:

- Mục đích của Giáo hội: thỏa mãn những đòi hỏi tinh thần của các tín đồ của mình.

- Mục đích của cộng đồng chính trị: công ích trần thế.

Giáo hội tôn trọng sự tự trị hợp pháp của trật tự dân chủ. Giáo hội không đủ thẩm quyền để đánh giá cơ cấu hiến định của một cộng đồng chính trị.

Giáo hội chỉ quan tâm đến các chương trình chính trị khi chúng có liên hệ đến tôn giáo và luân lý.

2/ Hợp tác

Sự tự trị giữa Giáo hội và cộng đồng chính trị không loại trừ mọi hình thức hợp tác (số 425)

- Cả hai đều nhằm phục vụ ơn gọi cá nhân và xã hội của cũng những con người như nhau.

- Giáo hội và cộng đồng chính trị không có mục đích ở nơi chính mình, nhưng cả hai đều phục vụ con người, một bên xét như là công dân, bên kia xét như là Kitô hữu. Sự phục vụ sẽ trở nên hữu hiệu hơn nếu đôi bên tìm một đường lối hợp tác lành mạnh.

3/ Giáo hội có quyền lợi được nhìn nhận tư cách pháp lý của mình (số 426).

Sứ mạng của Giáo hội bao trùm toàn thể thực tại của con người. Giáo hội liên đới với nhân loại và lịch sử của nó.

Giáo hội đòi hỏi quyền tự do phát biểu để bảo vệ những quyền lợi căn bản của con người hoặc phần rỗi các linh hồn. Đây là những tự do mà Giáo hội yêu sách:

- tự do phát biểu: giảng dạy

- tự do thi hành phụng tự

- tự do tổ chức nội bộ với những luật lệ riêng

- tự do lựa chọn, đào tạo, bổ nhiệm và thuyên chuyển các nhân viên của mình

- tự do xây dựng các cơ sở tôn giáo, và có tài sản thích hợp cho hoạt động của mình

- tự do thành lập hiệp hội nhằm mục đích tôn giáo, giáo dục, văn hóa, y tế, bác ái.

 



[1] Nên nhớ “Kitô” là phiên âm từ Christos (tiếng Hy-lạp) tương đương với Messiah trong tiếng Híp-ri có nghĩa là: kẻ được xức dầu (tấn phong)

[2] Điều này đã được nói trong chương ba, số 130 tt; 149 tt, trong phần cơ bản. Cần dung hoà hai thái cực: một bên đề cao cá nhân chủ nghĩa, cho rằng đời sống xã hội là thứ yếu đối với con người; bên kia đặt xã hội như một thực thể tuyệt đối và đối xử các phần tử như những con số vô danh. Lưu ý về dịch thuật: nguyên bản là “personne humaine”, dịch là “con người” thì cũng đúng; nhưng con người được định nghĩa như là con vật có lý trí”, còn “nhân vị” còn muốn bao hàm khía cạnh sống tương quan với các nhân vị khác (do ảnh hưởng của thuyết nhân vị, personnalisme).

[3] “Thiện ích chung” (quen dịch là “công ích”): bien commun (Pháp), common good (Anh) là cái điều tốt chung cho cộng đồng. Đây là một nguyên tắc căn bản của GHXH, được giải thích ở các số 164-170.

[4] Lưu ý về việc dịch thuật: peuple (Pháp), people (Anh) có thể hiểu theo nhiều nghĩa: “nhân dân” (đối lại với chính quyền); “dân tộc”: một cộng đồng gồm những con người có chung một gia sản lịch sử văn hoá. Tuy nhiên, như sẽ thấy trong mục II, việc xác định một “dân tộc” không phải là chuyện đơn giản. Nước Việt Nam là một dân tộc hay là 54 dân tộc? Sự khó khăn tương tự cũng gặp thấy trong ngôn ngữ Âu Tây khi phân biệt giữa peuplenation.

[5] Các quyền lợi con người đã được bàn ở chương ba, số 152-159.

[6] Đây là tư tưởng của thánh Tôma Aquinô, trong quyển Chú giải sách Đạo đức học của Aristote và quyển De regno.

[7] Thuật ngữ “văn minh tình thương” (civilisation de l’amour) do đức thánh cha Phaolô VI đặt ra trong sứ điệp ngày hoà bình thế giới năm 1977. Sách TLHT bình luận đề tài này ở các số 204-208; 580-583.

[8] Nature có thể dịch là: tự nhiên, thiên nhiên, bản tính, bản chất. Ở đây xin dịch là “bản chất”, nghĩa là sự cần thiết của quyền bính nằm trong bản chất của con người sống trong xã hội. Cái bản chất này do Thiên Chúa dựng nên, vì thế mà nói được là quyền bính bắt nguồn bởi Thiên Chúa.

[9] Nói cách khác, “ý dân không nhất thiết là ý Trời”:  không thể lấy sự đồng thanh chấp thuận của nhân dân làm tiêu chuẩn để định đoạt quy tắc luân lý. Nếu toàn dân nhất trí biểu quyết luật phá thai thì không vì thế việc phá thai trở thành tốt đẹp và phù hợp với luân lý!

[10] Luân lý Công giáo gọi là “luật luân lý tự nhiên” (GLCG 1954-1960)

[11] Phản đối theo lương tâm: objection de conscience (Pháp). Dĩ nhiên không thể hiểu theo nghĩa là “phản đối tiếng nói lương tâm” (không theo lương tâm), nhưng là “phản đối nhân danh lương tâm”. Sự phản đối không phải chỉ bằng lời lẽ, nhưng còn kèm theo việc bất tuân hành vì lý do lương tâm (“objection” là vấn nạn, phản biện, đối chất).  GLCG nói  điều này ở số 2242.

[12] Droit de résistance (Pháp): quyền chống đối, đề kháng, phản kháng. Phản kháng có lẽ hơi nhẹ!

[13] “Quốc gia pháp trị”: Etat de droit, không có nghĩa là quốc gia được cai trị bằng một rừng pháp luật, nhưng là quốc gia dựa trên Pháp Lý (hay: Công lý). Trong tiếng Pháp, “Droit” là Công lý, Chính nghĩa; khác với “loi” là luật lệ. Tiếng Anh không có sự phân biệt này; nếu muốn dịch sát chữ thì Droit là “Right (cái ngay thẳng).  Vì thế thiết nghĩ nên gọi là “pháp trị” hơn là “luật pháp”.

[14] Sách TLHT bàn thông tin trong chương nói về chính trị. Giám mục Nguyễn Thái Hợp dành một chương riêng cho đề tài “Đạo đức truyền thông” (chương 21).

[15] Liberté religieuse có thể dịch là tự do “tín ngưỡng”, hay tự do “tôn giáo”; trên thực tế các thuật ngữ này không đồng nghĩa, như sẽ nói trong mục II.

© 2014 Công lý và Hòa bình · All rights reserved. · RSS

UỶ BAN CÔNG LÝ & HOÀ BÌNH, TRỰC THUỘC HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM

Địa chỉ: 6B Tôn Đức Thắng, Phường Bến Nghé, Quận I, Tp.HCM

Tel: +(848)36007651 - Email Văn phòng TTK: ubclhb@gmail.com || Email Ban biên tập Website: clhbvn@gmail.com